Thursday, October 15, 2020

Quản trị sản xuất (production) và vận hành (operations)

 Quản trị sản xuất (production) và vận hành (operations)

Mục tiêu của quản trị sản xuất và vận hành là quản lý có hiệu lực và tận dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để sản xuất, chế tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Quản trị sản xuất là quản trị các hoạt động liên quan đến sản xuất ra sản phẩm hàng hóa. Quản trị vận hành được định nghĩa rộng hơn quản trị sản xuất; có thể nói rằng quản trị sản xuất là một phần của quản trị vận hành. Quản trị vận hành bao gồm quản trị các hoạt động kinh doanh (business operations) bởi nhà quản trị của tổ chức (managers of the organization).

 

Quản trị sản xuất

Quản trị vận hành

Định nghĩa

Quản trị các hoạt động liên quan đến sản xuất và chế tạo ra sản phẩm hàng hóa

Là một thành phần của quản trị liên quan đến sản xuất và phân phối sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.

Ra quyết định

Liên quan đến các khía cạnh của sản xuất

Liên quan đến các hoạt động kinh doanh thường nhật

Tổ chức  

Doanh nghiệp sản xuất và chế tạo.

Mọi tổ chức liên quan đến sản xuất, chế tạo, và cung cấp dịch vụ như ngân hàng, bệnh viện, đại lý, doanh nghiệp (bao gồm doanh nghiệp sản xuất), …

Mục tiêu

Sản xuất ra sản phẩm hàng hóa đúng chất lượng, đúng số lượng, đúng thời điểm, với chi phí tối thiểu.

Tận dụng các nguồn lực để cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng.

Công việc của nhà quản trị

Nhà quản trị sản xuất (Quản đốc, Phó giám đốc kỹ thuật): Thiết kế sản phẩm, đảm bảo chất lượng, số lượng, và tính toán chi phí.

Người quản trị vận hành: Thiết kế sản phẩm, đảm bảo chất lượng, số lượng, thiết kế quá trình, lựa chọn địa điểm, bố trí nhân lực, bố trí cửa hàng, bảo trì, logistics, quản trị kho bãi, giảm lãng phí.

Chức năng

Những nguyên lý của quản trị được ứng dụng trong sản xuất như quá trình lập kế hoạch, điều độ, giám sát và kiểm tra các hoạt động trong quá trình sản xuất, biến đổi các tài nguyên và gia tăng giá trị cho các tài nguyên để tạo ra sản phẩm một các có hiệu quả.

Quản trị hoạt động kinh doanh hằng ngày đảm bảo vận hành suôn sẻ và có hiệu lực. Bao gồm quản trị hoạt động sản xuất, chế tạo, và cung cấp dịch vụ. Chức năng của vận hành là thiết kế, thực thi, kiểm soát quá trình sản xuất, biến đổi đầu vào thành đầu ra, sử dụng các nguồn lực để tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng. Nhiệm vụ là tối ưu hóa các nguồn lực, giảm lãng phí, thất thoát.

Quản trị sản xuất và vận hành là hai khái niệm khó tách bạch lẫn nhau và có tính chồng lấp. Quản trị sản xuất bao gồm tất cả các hoạt động quản trị tất cả các hoạt động trong quá trình sản xuất, chế tạo ra sản phẩm. Quản trị vận hành bao gồm tất cả các hoạt động sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ như quản trị nguyên vật liệu, quản trị chất lượng, bảo trì, quản trị quá trình, thiết kế sản phẩm và quá trình, …

Saturday, October 3, 2020

BÀN VỀ PHƯƠNG PHÁP

 Thí nghiệm quan trọng của các nhà khoa học: Phản ứng của loài gia súc và của loài khỉ.

Người ta thiết kế 2 phòng. Phòng thứ nhất cho các loại gia súc cho vào không gian của phòng đó để các thanh tre, dây, bàn ghế, mở cửa sổ trái và phải, khóa cửa chính. Phòng bên cũng làm tương tự bằng kích thước, cấu trúc và thả các chú khỉ vào. Sau đó khóa từ bên ngoài. Các nhà khoa học sử dụng các tính hiệu tạo tiếng ồn, và sử dụng các camera quan sát phản ứng của gia súc và khỉ. Khoảng nữa tiếng sau. Các chú khỉ biết dùng dây nối thanh tre, tấn vào tường, gác trên bàn, và thoát ra ngoài một cách an toàn. Camera quay lại. Các chú khỉ để ghế trên cái bàn cố thoát ra nhưng thất bại, sau đó dùng thanh cây và nối dây ra ngoài. Loài gia súc phản ứng hoảng loạn, la hét, chạy quằng xiên, loại này húc loại kia, con này đụng con khác. Kết quả chúng vẫn nằm im trong phòng cố định. Chất xám đóng vai trò trong phương pháp. Và phương pháp bổ trợ và phát triển nâng cao chất xám. Loài khỉ đi bằng hai chân và có hai tay. Các loại có bộ xương sống nằm nghiên, hai chân trước chạm đất cùng với hai chân sau. Nên động tác các loại này không có tay tự do để thực hiện các động tác như khỉ và con người. Những loài sinh ngang về cột xương sốt có chất xám ít hơn loại xương sốt đứng.Con người có chất xám tốt hơn.

Kết luận: 

- Học ngồi tốt có kết quả cao hơn học nằm.

- Cá heo có chất xám cao hơn con người từ 2 đến nhiều lần. Không chinh phục thế giới vì có cấu trúc xương sườn nằm ngang như các loại bàng sinh. Tùy theo loại cấu trúc và trí não có tỷ lệ thuận hay tỷ lệ nghịch.  

- Khối lượng dữ liệu trong không gian và thời gian giống nhau. Con khỉ thoát ra ngoài một cách an toàn. Gia súc nằm im một chỗ hoặc chạy loạn xạ. Biến cố xảy ra nằm chờ chết. Thế giới kiến thức là không có giới hạn, vô hạn, đường kính không cùng tận, biên độ ko có ngần mé. Sử dụng kỹ năng phương pháp cho chúng ta thu nạp kiến thức tương đối. Và việc học có hiệu quả.

- Phương trình 2 vế:

CẦN CÙ dẫn đến KẾT QUẢ

PHƯƠNG PHÁP (HOW) dẫn đến HIỆU QUẢ (EFFICIENCY)

Tham khảo: Trần Ngọc Thảo (Phương pháp nghiên cứu khoa học)

Hải Tuệ (sưu tầm) 

Tuesday, September 22, 2020

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU (Data Envelopment Analysis – DEA)

Phương pháp phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis – DEA) là một trong những phương pháp đánh giá hiệu quả (efficiency) cho các đơn vị ra quyết định (Decision-Making Units – DMUs) sử dụng phương pháp phi tham số (non-parametric method). DEA sử dụng công cụ toán học đó là quy hoạch tuyến tính (linear programming) để tính hiệu quả tương đối (relative efficiency) các DMUs để so sánh chuẩn mức (benchmarking).

Ý niệm sơ khởi về ước lượng hiệu quả được ra đời từ những năm 50s của thế kỷ trước. Tính hiệu quả là một trong những khái niệm quan trọng trong lĩnh vực kinh tế sản xuất. Trong giai đoạn ban đầu, phương pháp này không được chú ý nhiều. Nhưng đến cuối những năm 70s, phương pháp này được ứng dụng rộng rãi và là công cụ cho các nhà nghiên cứu cũng như nhà làm chính sách khi các tác giả Charnes, Cooper & Rhodes (1978) và Banker, Charnes, & Cooper (1984) đề xuất mô hình CCR hay Constant Returns to Scale (CRS), và mô hình BCC hay Variable Returns to Scale (VRS) thì số lượng các bài báo được xuất bản như “nở hoa” trên thế giới.

Phương pháp này được ứng dụng cho nhiều lĩnh vực tư cũng như là công. Ví dụ như là so sánh chuẩn hiệu quả cho các hãng hàng không, cảng hàng không, ngân hàng, bệnh viện, khách sạn, giáo dục, môi trường, điện lực, giao thông vận tải, các chính quyền địa phương, dịch vụ địa phương, cơ sở hạ tầng công, và nhiều lĩnh vực khác.
 
Data envelopment analysis approach. | Download Scientific Diagram
 
Ưu điểm của phương pháp này là có thể đo lường multiple inputs và multiples outputs, không có sai số do nhiễu (noise), đo lường giá trị hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency) theo CRS, VRS, và biết được tính hiệu quả kinh tế về quy mô (economic scales). Sau khi ước lượng được điểm số hiệu quả bằng phương pháp DEA, nhà nghiên cứu có thể kết hợp với những phương pháp tham số như hồi quy để xác định những yếu tố môi trường tác động đến hiệu quả. Những ưu điểm này chính là lý do DEA được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu của các học giả ngày nay. 
 
Hải Tuệ,

Monday, September 14, 2020

Nghề quản lý - Henry Mintzberg

Nghề quản lý.

Theo Henry Mintzberg, quản lý là một nghề. Quản lý không hẳn là khoa học, không hẳn là nghệ thuật, không hẳn là kỹ xảo; mà đó là sự kết hợp của 3 thành tố này. Ông xem quản lý như là một nghề, thông qua trải nghiệm thực tế và trưởng thành quản lý, chứ không hẳn là được học từ trường học. Công việc quản lý không nhất thiết phải mang tính khoa học, nhưng càn yếu tố trật tự của khoa học, cũng có lúc theo tính thực tế của kỹ xảo và một chút hơi hướng nghệ thuật. 

Đối với các ngành như thuần khoa học như nghề bác sỹ hay kỹ sư. Một người không thể phẩu thuật hay chẩn đoán và chữa bệnh được nếu không trải qua trường lớp về y học. Nhưng một nhà quản lý thành thạo không cần học trường lớp bài bản cũng có thể quản lý hiệu quả. 

Trước đây, khi chưa có các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn (trước thế kỷ 18), khái niệm quản lý là xa vời. Chỉ có khái niệm là quản lý hành chính công (public administration) vì nhà nước cần công cụ để quản trị nhà nước. Sau đó khi có cuộc cách mạng khoa học, và sau này là công nghiệp hóa, khái niệm quản lý khoa học xuất hiện. Khoảng vài thập kỷ trở lại đây, từ khóa lãnh đạo (leadership) lên ngôi và mang tính thời thượng. Thực ra, leadership xuất phát từ việc quản lý. Trong một nhà quản lý không thể không có lãnh đạo và trong một nhà lãnh đạo không thể không có quản lý. Lãnh đạo được dạy trong các trường học để tôn vinh, đề cao nghề nghiệp quản trị, chứ thực ra lãnh đạo là một nhánh phát triển từ quản lý.

Lãnh đạo chịu trách nhiệm thúc đẩy, truyền cảm hứng, khơi gợi sự đột khởi và nỗi kính sợ, xốc dậy các công ty ốm yếu. Công việc lãnh đạo giống như phần chìm của tảng băng nổi, và công việc quản lý như là phần nổi của tảng băng chìm.

Vai trò trong công việc của nhà quản lý bao gồm: quan hệ giữa con người và con người biểu hiện dưới dạng giao tiếp, con người và thông tin biểu hiện dưới dạng liên kết và truyền tin, con người ra quyết định biểu hiện dưới dạng giải quyết vấn đề. 

Hiệu quả của một nhà quản lý được đánh giá chứ không phải thông qua đo lường.Đừng bị mê hoặc bởi những phép đo lường.

Nếu một nhà quản lý không hiệu quả thì việc ghép đôi hợp lý giữa hai người bổ trợ nhau sẽ đem lại hiệu quả.

Không có nhà quản lý hiệu quả nói chung và không có ai được gọi là nhà quản lý chuyên nghiệp vì một người không thể giỏi được nhiều thứ. 

Để đánh giá hiệu quả quản lý của một người cần phải xem xét bối cảnh, môi trường chính là mức độ hiệu quả của tổ chức.

 Trên đây là một số ý rút ra từ guru Henry Mintzberg về nghề quản lý.

Henry Mintzberg Quote: “Management is, above all, a practice where art,  science, and craft meet.” (7 wallpapers) - Quotefancy 

Hải Tuệ,

Thursday, September 3, 2020

Lược sử loài người của Yuval N. Harari

 Lịch sử loài người Homo Sapiens của Yuval Noah Harari đem lại cho người đọc một góc nhìn về lịch sử con người thông qua ba giai đoạn từ cuộc Cách mạng nhận thức (cách đây 70.000 năm), Cách mạng Nông nghiệp (cách đây khoảng 12.000 năm) và Cách mạng khoa học (cách đây khoảng 500 năm).

Từ khi hình thành trái đất từ 13.5 tỷ năm. Lược sử của trái đất trải qua các giai đoạn về tác động của biến đổi vật lý, biến đổi hóa học, và quá trình tiến hóa sinh học. Con người tồn tại cách đây khoảng hơn 2 triệu năm từ Đông của Châu Phi, và lan tỏa đi khắp nơi trên thế giới. 

Sách viết cung cấp kiến thức khá phong phú, tuy nhiên cách sắp xếp thông tin khá lộn xộn, lúc nói về chỗ này, lúc nói về chỗ khác ở giai đoạn khác. Chưa làm rõ từng giai đoạn. 

Thực ra đã từng có ít nhất 3 loài giống người từng sống trên trái đất mà con người hiện nay cho rằng là người ngoài hành tinh. Thực ra bộ gene của những loài này vẫn đang còn lưu lại trên trái đất, trong các hang đá ở dãy Hymalaya. Sau này những bộ gene này sẽ hữu ích. 

Châu Âu chỉ mới phát triển khoảng mấy thế kỷ gần đây khi có cuộc cách mạng khoa học, trước đó Châu Âu vẫn còn là vùng trũng về văn minh. Văn minh con người tập trung ở vùng Lưỡng Hà, Sông Hằng, Trung Hoa, và Hy Lạp. Một số nền văn minh của Inca, Atzec ở châu Mỹ. 

Từ chương 1 đến 18, tác giả dẫn dắt và cung cấp thông tin mang tính lịch sử của nhân loại. Chương mà tôi đánh giá cao và mang tầm triết lý là tác giả nói về HẠNH PHÚC ở chương 19. 

Quyển sách này cũng nên đọc để lấy thông tin và mở rộng tầm hiểu biết. Có một số những nghịch lý tồn tại mà con người thường bị nhầm lẫn và có những FUN FACT!. Có một số triết lý cần đọc, đặc biệt là tác giả nói về HẠNH PHÚC của con người.

Sapiens: Lược Sử Loài Người Của Yuval Noah Harari – Review Và Tổng Kết -  MinVitaMoon 

Hải Tuệ,

Tuesday, August 11, 2020

Five strategies to write up

 5 chiến lược viết của Nathalie Reid:

Chiến lược 1: Viết ít hiểu nhiều (Less is more) - Editing for strength.

    Làm ngắn cấu trúc câu.

        - due to the fact that = because

        - in view of the above = therefore 

    Hạn chế cliches (lặp lại)

        - each and every one

        - first and foremost

    Hạn chế "it is" và "there is/are"

    Hạn chế "hedge words"

Chiến lược 2: Viết rõ ràng (Clarity rules!)

Chiến lược 3: Tổ chức và sắp xếp ý theo lối suy luận Aristole.

Chiến lược 4: Phân tích những tạp chí có ý xuất bản vào đó.

Chiến lược 5: Chỉnh sửa về ngôn ngữ, tính rõ ràng, lý lẽ, dấu câu,...

Getting Published in International Journals: Writing Strategies ... 

Hải Tuệ (tổng hợp)

Saturday, August 1, 2020

Readable writing

Bài viết sau đây, mô tả kinh nghiệm viết trong học thuật của John M. Macguire.

1. Xác định mục tiêu rõ ràng (good objects), hơn là có một ý tưởng tốt (good ideas).
Good ideas thì mô tả những ý tưởng mơ hồ, trừu trượng, người nghe khó nắm bắt.
Ví dụ như khi nói về dinh dưỡng (mức độ abstract) thì người nghe khó hiểu, nhưng khi nói cụ thể hơn như quả táo, nước cam, ... thì người nghe dễ hiểu hơn.

Software Development: Ladder of Abstraction in Software

2. Khi viết phải có lúc tập trung vào chi tiết nhưng cũng có lúc nhìn bức tranh toàn cảnh. Ví dụ như họa sỹ rất tẩn mẫn cho những chi tiết nhỏ, nhưng đôi khi khi vẽ họ đi ra xa khỏi bức tranh để nhìn tổng thể, để rồi vẽ tỉ mỉ lại.

3. Viết tốt cần phải chọn một phong cách tốt: Xác định sự vật, sự việc rõ ràng (things), dùng thể chủ động (active verb), có con người, short words và short sentences. (Phong cách Mỹ).

4. Phải simple và clear. Nhiều người lầm tưởng là phải viết dài, dùng từ ấn tượng (người Việt hay bị vì thầy/ cô giáo dạy hoặc do đi thi), nhưng sai lầm phải viết simple và clear trước, thì ấn tượng về câu viết có hiệu ứng theo sau.

5. Học cách viết của người researcher đẳng cấp thuộc hàng top-notch, thường được xuất bản ở những journal hàng đầu. Cách viết của họ rất simple và elegant. Đọc vào là dễ thấy. Trong khi đó những người ở mức level thấp thường viết dong dài và fuzzy. Editors đọc vào là có thể biết ngay who is who?

6. Kỹ thuật viết nào là phù hợp? Chọn tác giả viết mà mình thán phục, sau đó học viết theo cách của họ. Viết nhiều lần và ứng dụng cách viết của họ. Học những câu mà mình không thể viết được do mình không phải in nature,

7. Làm sao để viết các chủ đề khoa học? Các chủ đề về khoa học thường rất trường tượng, nên dùng metaphore để viết. Ví dụ viết về phân tử, cụ thể như nước H2O, thì dùng một hình tượng hai quả chanh và một quả cam đại diện cho các nguyên tử.

8. Liệt kê ra những word lists cần dùng. Phải dùng đúng từ (right words) và đúng trật tự (right orders) thì tạo ấn tượng, nếu làm trật thì ideas của mình không được revealed.

9. Nếu không có gì để nói hay có ideas mà không cụ thể hóa?
Dùng brainstorm, dùng tờ giấy để viết ra ý tưởng, từ vựng, kết nối những ý lại với nhau, sử dụng diagram, mind-mapping. Nhớ phải thật simple và clear.
Nếu chưa ra ý tưởng thì hãy để đó, đi dạo bộ 30 phút, sau đó vào kết nối ý tưởng.

10. Lời khuyên cho người viết:
- Viết câu ngắn và hoàn chỉnh.
- Luôn đặt ra câu hỏi là mình muốn nói cái gì? và mình không muốn bỏ ý nào ra ngoài?

Trên đây là tổng hợp những lời khuyên của chuyên gia về writing cho sinh viên khi viết bài term papers, khóa luận, hay luận văn.

Hải Tuệ (tổng hợp).


Sustainable Entrepreneurship

Khởi nghiệp bền vững Phân biệt khởi nghiệp sinh thái, khởi nghiệp xã hội, khởi nghiệp thể chế và khởi nghiệp bền vững.    Sơ đồ ý niệm biểu...